Peer Deep Dive – Phân tích sâu về Peer Metaverse Coin (PMC)

Source: Peer – The Web3 Social Network – by Ryan Allis – Coinstack (substack.com)

 

Phân tích sâu về Peer Metaverse Coin (PMC)

Bởi Mike Gavela & Ryan Allis, Nhà xuất bản của Coinstack

Peer là một mạng xã hội Web3 và hệ sinh thái metaverse dựa trên blockchain.Là ứng dụng phi tập trung đầu tiên, Peer đang cố gắng xây dựng mạng xã hội Web3 thành công, tiếp bước Deso, Lens, và Steem trở thành người chiến thắng trong cuộc đua xây dựng phiên bản Web3 của Facebook.

Tiền điện tử gốc của Peer có tên là Peer Metaverse Coin(PMC), được ra mắt vào thứ hai ngày 27/6/2022. Đây là một bài báo phân tích sâu về đông tiền này.

Trong khi “token” hoạt động trên một blockchain có sẵn (ví dụ UNI trên Ethereum), “coin” là đồng tiền gốc trên blockchain của chính nó ( ví dụ ETH trên Ethereum). Peer Metaverse Coin là đồng tiền gốc được sử dụng cho mọi giao dịch và tặng thưởng trên Peer blockchain, nên nó là một đồng tiền điện tử gốc duy nhất.

Vào thứ hai ngày 27/6/2022, các nhà đầu tư trên toàn thế giới đã có thể mua coins trên nền tảng ICX của Peer.

Đồng PMC sẽ được sử dụng cho các giao dịch trong khối blockchain của Peer, dùng để tiếp cận các tính năng và sản phẩm, góp vốn để xây dựng và bỏ phiếu cho các quyết định quản trị của mạng xã hội.

Peer đã thiết kế blockchain này theo dựa theo trải nghiệm của người dùng, và tham khảo tốc độ truyền dữ liệu của các đối thủ như Avalanche và Solana để tăng sức mạnh cho mạng xã hội Web3 và các ứng dụng của metaverse trong tương lai.

Như chúng tôi đã phân tích về Peer, sự xuất hiện của họ vào mùa hè này được đánh dấu bằng một mạng xã hội Web3, nơi mà người dùng sẽ được tự đọc, viết, sở hữu nội dung của mình và các kết nối với bạn bè. Người dùng có thể nhìn được các kết nối trên mạng xã hội của họ.

Không như Facebook, nơi mà dữ liệu người dùng bị bán cho nhà quảng cáo, Peer sẽ tặng thưởng coins cho các nhà sáng tạo nội dung và người dùng nhằm thúc đẩy các nội dung tốt.

Người dùng sẽ không bị giới hạn chỉ chia sẻ nội dung như bài đăng trên bảng tin. Mạng xã hội của Peer sẽ nâng tầm các khía cạnh cơ bản của blockchain như tính bất biến, sự khan hiếm, và tính vô hình.

Một ví dụ thể hiện điều này là nếu có 1 ban nhạc phát hành bài hát mới của họ ở Chicago và biến nó thành một NFT( tài sản không thể thay thế), họ có thể giới hạn nó chỉ có thể nghe được bởi những người đang có mặt tại Chicago. Những NFT này có thể sẽ được sử dụng như một vé mời đến buổi trình diễn bí mật cho các fan trung thành của ban nhạc. Peer gọi đây là “ambient web”- web không gian, nơi mà thông tin kỹ thuật số và thực tại vật lý gặp nhau.

Bạn có thể tìm hiểu thêm về Peer và quá trình ICX qua website chính thức https://peer.inc

Bạn cũng có thể theo dõi Peer qua Twitter tại địa chỉ @peerpmc.

 

Thông tin về phát hành PMC coins:

Peer sẽ mở bán đồng PMC (Peer Metaverse Coin) qua quá trình ICX đối với các nhà đầu tư chính thức tại Mỹ theo Quy tắc 506(c) của Quy định D của Đạo luật Chứng khoán năm 1933, và với các nhà đầu tư có quốc tịch khác theo Quy định S của Đạo luật này. Tổng lượng PMC sẽ được cố định ở mức 2,100,000,000(2.1B) và mục tiêu là bán 10% hoặc 250M trong vài tháng tới.

Hiện tại, Peer đang chào bán PMC theo Quy định D và S với sự miễn trừ đăng ký với chính phủ theo đạo luật dành cho tài sản kỹ thuật số được phân loại là chứng khoán( thường được gọi là tokens).

Người dùng khi truy cập vào trang web của Peer phải xác nhận rằng họ là (1) nhà đầu tư chính thức của Mỹ hoặc (2) người không phải công dân Mỹ đang truy cập trang web từ nước khác.

Mọi người có thể xem đề nghị từ phía Peer tại đây https://www.peer.inc/waitlist?utm_source=coinstack&utm_medium=web&utm_campaign=launch&utm_content=article.

Nền tảng ICX là một ứng dụng phi tập trung xây dựng trên blockchain của Peer. Peer dự định sẽ mở nền tảng ICX này cho khác dự án khác có mong muốn gọi vốn theo quá trình ICX cho giai đoạn sau.

Ảnh: ICX cho ứng dụng phi tập trung trên Blockchain của Peer, là hệ thống cho các dự án blockchain để chào bán tokens. Nguồn: Peer

Mô hình định giá của PMC

Đồng PMC sẽ có giá $1 ( 1 đô la Mỹ) khi mở bán và tăng $0.05( 0.05 đô la Mỹ) mỗi tháng và cứ sau $300k lượng PMC được bán ra thì giá trị sẽ tăng $0.01 mỗi đồng. Mục đích của sự điều chỉnh tăng này là để bắt chước cách các công ty gọi vốn từ các quỹ đầu tư mạo hiểm, với mỗi vòng sẽ tăng giá trị cùng với sự phát triển của sản phẩm, lượng sử dụng, và doanh thu.

Chính sách định giá PMC chỉ ảnh hưởng đến lượng bán ra của Peer. Peer không có ý định thiết lập chương trình mua lại và giá trị của PMC trên thị trường có thể sẽ khác đáng kể so với giá mua từ Peer.

Coins PMC được mua từ Peer sẽ là “cổ phiếu hạn chế” sẽ phải được giữ tối thiểu 1 năm sau khi mua theo quy định của Đạo luật. Peer có kế hoạch tung ra một Nền tảng DEX sau năm đầu tiên nhằm tạo ra thị trường thứ cấp riêng cho đồng tiền này, nhưng sẽ không đảm bảo rằng thị trường bán lại sẽ phát triển hoặc PMC sẽ có giá trị hoặc tính thanh khoản đáng kể. Khả năng bán lại trong tương lai có thể phụ thuộc vào Peer qua (1) thiết lập rằng PMC có giá trị chủ yếu dựa trên giá trị thị trường của tiện ích của nó trong thương mại chứ không phải như một hợp đồng đầu tư, hoặc (2) niêm yết PMC trên một hoặc nhiều diễn đàn giao dịch và được coi là cổ phiếu ở Mỹ.

Nếu bạn đủ điều kiện để mua PMC và muốn tìm hiểu thêm về Peer và dịch vụ của họ, bạn có thể truy cập trang web của họ bằng cách sử dụng liên kết ở đây https://www.peer.inc/waitlist?utm_source=coinstack&utm_medium=web&utm_campaign=launch&utm_content=article .

Cuộc thảo luận này về PMC và công ty Peer chỉ dành cho thông tin chung và không nhằm mục đích thúc đẩy việc bán PMC hoặc mua PMC. Bài báo không bao gồm thông tin dành cho người mua tiềm năng.

Chúng tôi khuyến khích độc giả quan tâm đọc PPM( Bản công bố thông tin) của họ.

Thông qua quy trình ICX, Peer hy vọng sẽ tạo ra một khuôn khổ giúp tự động hóa và phi tập trung các phương thức, để các dự án có được nền tảng phù hợp và được định giá, và giúp đạt đủ điều kiện và định lượng giá trị của một dự án mà không cần bên trung gian.

Hệ sinh thái của PMC

Source: Peer – Unlocking the metaverse.

PMC là đồng tiền chính thống của trên blockchain của Peer và sẽ được sử dụng để thanh toán cho các tính năng trên nền tảng Web3 của Peer – được xây dựng trên blockchain. Mọi phí giao dịch sẽ được trả bằng coin PMC. Hơn nữa, PMC coin sẽ là nhân tố cần thiết trong lộ trình phát triển phần cứng của Peer.

Hệ sinh thái này được thiết kế song song giữa nhà phát triển và người dùng. Nói cách khác, nhà phát triển sẽ lấy PMC từ người dung, đồng thời người dùng sẽ lấy PMC từ nhà phát triển (ví dụ: xảy ra khi nhà phát triển cần dữ liệu từ người dùng).

Ảnh: Giao diện cho giao dịch BTC, USD, và tài sản khác cho PMC.

Nguồn: Peer.

 

 

Một vài sản phẩm sẽ cần nhiều PMC hơn những cái khác, nhưng Peer dự định hạn chế các giao dịch ở mức dưới $0.01 (1 cent) giống Solana. Peer đảm bảo lượng PMC được cung cấp mới sẽ giao động ở mức 1-5% mỗi năm.

Peer dự kiến lượng coin cung cấp ra thị trường sẽ phân phối như sau

Graph

Công ty cũng dự định sẽ phát hành stable coin( đồng tiền ổn định) có tên Peer USD( $USP) vào tháng 8 năm nay. Người dùng có thể mã hóa USP dựa trên tổng số lượng dollars được bán trong đợt ICX để bảo toàn giá trị ban đầu. Gía trị của nó sẽ được giữ ổn định qua quá trình đốt mã hóa thuật toán cân bằng và sẽ được hỗ trợ bởi cả dòng tiền chung và tiền dự trữ của Peer.

Hướng đi của Peer tới Ambient Web và Thực tế ảo

Ambient Web được định nghĩa là thực tại tăng cường, nơi mà bảng tin và những cuộc gọi video không bị hạn chế ở màn hình trên điện thoạt/ laptop mà sẽ được tương tác kĩ thuật số với thế giới xung quanh. Nó tương tự như Pokemon GO hay Mocrosoft Hololens nhưng nằm trên blockchain.

Peer đang xây dựng một cấu trúc hoàn toàn mới cho thế hệ máy tính tiếp theo. Để bắt đầu dự án này, Peer sẽ xây dựng giao diện cho người dùng trên mạng xã hội Web3 của họ, nơi mà nhà phát triển cũng như người dùng sẽ được trải nghiệm môi trường phi tập trung. Môi trường này sẽ cũng cấp nhà xuất bản, trình duyệt, và người xem cho nội dung của Web3. Cách hiển thị sẽ giống như giao diện trên màn hình máy tính, cung cấp môi trường cho nhà phát triển có thể phục vụ người dùng, và người dùng có thể sáng tạo nội dung dựa trên thuộc tính của blockchain.

Một khi đã đủ lượng thông tin trên Web3 được hình thành, Peer sẽ biến môi trường này thành giao diện hệ thống điều hành mà người dùng có thể trải nghiệm Web3 tối hơn, giúp tương tác với máy tính dùng kính AR( thực tế tăng cường) như Microsoft Hololens – sản phẩm cho ứng dụng thương mại, hay kính AR sắp tới của Apple( được đồn đoán ra mắt vào 2023).

Web3 / Crypto / Blockchain giống như là nền tảng của sự chuyển đổi từ hệ thống máy tính lớn sang máy tính cá nhân, sau đó là sang web, rồi từ web đến thiết bị di động. Web3 là một lớp đáng tin cậy được xây trên môi trường khiếm khuyết của web.

A16Z Crypto đã nói trên trang chủ của họ,

“Kỷ nguyên đầu tiên của Internet hiện đại (khoảng từ 1990-2005) là về các giao thức mở được phân cấp và do cộng đồng quản lý. Hầu hết giá trị được tích lũy vào các khía cạnh của mạng bao gồm người dùng và người xây dựng. Kỷ nguyên thứ hai của Internet (khoảng 2005-2020) thiên về các dịch vụ tách biệt, tập trung. Phần lớn giá trị được tích lũy cho một số ít các công ty công nghệ lớn. Hiện tại, chúng ta đang bắt đầu kỷ nguyên thứ ba của Internet – thứ mà nhiều người gọi là web3 – sẽ kết hợp các đặc tính phi tập trung, do cộng đồng quản lý của kỷ nguyên đầu tiên với chức năng tiên tiến, hiện đại của kỷ nguyên thứ hai. Điều này sẽ mở ra một làn sóng sáng tạo và tinh thần kinh doanh. ”

Ảnh: bản dựng từ thiết kế kính AR(thực tế tăng cường) của Antonio DeRosa từ Apple, được đồn đoán ra mắt vào 2023sẽ vượt qua Google Glass và Microsoft Hololens.

Tầm nhìn của Peer về Web3 sẽ kết nối dữ liệu kỹ thuật số với thông tin vật lý trong thế giới thực. Việc chuyển đổi từ kết nối kỹ thuật sang kết nối vật lí của tiền điện tử cùng với bản chất không cần sự tin cậy của tiền điện tử sẽ tạo ra những trải nghiệm và mô hình kinh tế hoàn toàn mới, định hình thiết bị phần cứng trong tương lai.

Trong khi Meta’s Oculus đang cố gắng để điều khiển thị trường VR( thực tế ảo) thì thị trường AR( thực tế tăng cường) vẫn đang để ngỏ, sẽ là nơi mà Peer tham gia.

Peer – Blockchain cho web không gian

Ảnh: Lộ trình phát triển của Peer.

Nguồn: Peer – Unlocking the metaverse.

Không giống như các blockchain layer 1( blockchain ban đầu) khác đang tập trung cải thiện tốc độ giao dịch hoặc phát triển ứng dụng phi tập trung(hay nói cách khác là tính thanh khoản quỹ đầu tư), Peer hướng đến dẫn đầu một thế hệ công nghệ tiếp theo với hệ sinh thái công nghệ đầu cuối, chính là hệ điều hành Web3 cho môi trường web xung quanh.

Nguồn: Peer – Unlocking the metaverse.

Peer nhắm tới đưa blockchain đến với công chúng bằng cách phát triển ứng dụng phi tập trung dễ sử dụng với giao diện cho người dùng đẹp mắt. Sau đó Peer sẽ mở rộng sang các sản phẩm phần cứng có khả năng tương tác với metaverse qua trải nghiệm VR / AR (thực tế ảo/ thực tế tăng cường).

Blockchain cơ sở(Layer 1) của Peer được xây dựng với một tính năng mới: Bằng chứng Cổ phần Đề cử (nPoS) cho phép chuỗi thích ứng, mở rộng tốc độ giao dịch, và bảo mật để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và nhà phát triển.

Peer đã phát triển blockchain của họ trong ba năm qua. Peer dự định thiết kế một mô hình hỗn hợp cho phép cơ chế đồng thuận phân tán nhưng tất cả đều ở thiết kế cấp cao và quyết định về phát triển sẽ được quyết định bởi công ty. Trong quá trình phát triển mô hình lai, họ đã dành ra 2 năm để nghiên cứu và phát triển blockchain phù hợp với mong muốn. Cuối cùng, họ đã có thể phát triển một chuỗi dựa trên Bằng chứng cổ phần đề cử (nPOS) và khởi chạy mạng chính thức của họ vào tháng 3.

Blockchain của Peer được xây dựng cùng với một nhóm chuỗi phụ, liên kết bằng các cầu nối sau đó được lưu trữ vào một bản ghi chuỗi chính (MCR), tạo thành xương sống tham chiếu cho tất cả các hoạt động. Peer tập trung vào khả năng truyền thông tin cao hơn. Họ thấy 3 cách khác nhau để tăng tốc Giao dịch mỗi giây (TPS) của blockchain khi nhu cầu tăng lên: thêm chuỗi phụ, tăng giao dịch trên mỗi khối hoặc cắt giảm thời gian khối. Bằng cách tăng tốc TPS của họ qua các phương pháp trên, Peer có khả năng mở rộng chuỗi của mình để phù hợp nhất với trải nghiệm của người dùng và nhu cầu của nhà phát triển.

Peer ưu tiên trải nghiệm của người tiêu dùng hơn tất cả, đó là lý do họ thấy cần phải tự phát triển blockchain ban đầu( Layer 1). Tony Tran đã nhận xét về sự phát triển của chuỗi của mình so với các chuỗi khác trên thị trường.

“Có quá nhiều dự án được thiết kế với những hạn chế được định sẵn, nhưng điều đó không tập trung vào người dùng. Đó là bởi vì họ tập trung vào việc bán tiền ảo và thổi phồng công nghệ bằng một con số — chính là lý do khiến ICO gặp khó khăn. Nếu blockchain thực sự là tương lai, chúng ta cần thiết kế để có tính linh hoạt và khả năng mở rộng vì nếu công nghệ phát triển theo cách chúng ta đang hình dung, chúng ta sẽ cần hàng trăm triệu giao dịch mỗi giây. Tốc độ sẽ phải tự điều chỉnh được theo thời gian. Chúng ta chưa nên vội vã ngay lúc này.

Chúng tôi cần phát triển blockchain ban đầu từ bước đầu tiên để nó phục vụ người dùng. Trong hầu hết các trường hợp, chúng tôi thấy các blockchain được phát triển để phục vụ các công cụ khai thác hoặc trình xác thực blockchain — thứ khiến dự án trở thành một doanh nghiệp blockchain. Điều đó là không thể thực hiện được và không bền vững, và chúng tôi đã nhận thấy nó diễn ra trong quá trình suy thoái gần đây. Điều mà Peer muốn làm là phát triển một hệ sinh thái Web3 có sản phẩm và dịch vụ, bao gồm cả phần cứng và phần mềm.

Chúng tôi luôn nghĩ đến trải nghiệm của khách hàng trong blockchain. Nếu chúng ta xây dựng trên một lớp blockchain ban đầu có sẵn khác, chúng tôi sẽ chỉ có tokens và tokens chỉ có thể cung cấp dịch vụ trong một ứng dụng bị giới hạn, trong khi coins phải hoạt động được trên nhiều nền tảng. Ngoài ra, đặc tính, tầm nhìn, và lộ trình dự án của chúng tôi là khác hoàn toàn với các blockchain ban đầu(Layer 1) hiện có. Chúng tôi muốn kiểm soát chính xác sự tăng trưởng của nó và cách ly nó khỏi sự biến động của thị trường ở giai đoạn hình thành.”

Ngôn ngữ lập trình của Peer: Rust

Đội ngũ Peer đã quyết định không sử dụng Solidity làm ngôn ngữ lập trình của mình và thay vào đó chọn sử dụng Rust. Nhóm phát triển của Peer tập trung vào lượng truyền tải thông tin và thời gian để đạt được kết quả cuối cùng – chính là những đặc tính Rust được biết đến: sự đơn giản, tính tương đồng và tốc độ. Đây là lý do tại sao Anatoly Yakovenko từ Solana cũng chọn Rust làm ngôn ngữ lập trình của Solana.

Rust có hiệu suất cao trong khi nó vẫn đảm bảo an toàn cho bộ nhớ và cũng hỗ trợ lập trình đồng thời. Rust là một ngôn ngữ tương thích ngược và nhiều người cho rằng nó sẽ được sử dụng nhiều trong tương lai vì sự phổ biến của nó trong các nhóm phát triển hiện nay. Mặc dù chuỗi vốn không tương thích với các chuỗi EVM(Ethereum Virtual Machine) khác như Ethereum và Avalanche, Peer vẫn chào đón ý tưởng về phát triển công nghệ chuỗi chéo nếu có nhu cầu (tương tự như Neon trên Solana).

Mô hình đồng thuận của Peer

Blockchain của Peer được củng cố bằng cơ chế Bằng chứng cổ phần đề cử (nPoS) – một dạng mở rộng của cơ chế đồng thuận (Proof of Stake/PoS). Trong nPoS, những người đề cử hỗ trợ người xác thực bằng cách ký quỹ(còn hiểu là đặt cọc coin) như một minh chứng cho sự tin tưởng vào hành vi đúng đắn của người xác thực. Blockchain của Peer là một trong những dự án dựa trên PoS, nghĩa là phân quyền cho tất cả những người xác thực được chọn – những người sẽ tham gia vào giao thức đồng thuận. Để thể hiện giá trị này, những người đề cử vẫn có thể bảo đảm quyền lợi của họ trong khi phân tán quỹ một cách đồng đều với các người xác thực đã được chọn.

Mục tiêu của nPoS là đảm bảo sự phân cấp và sự đại diện đồng đều thông qua tỷ lệ đại diện hợp lý cũng như bảo mật tốt với hỗ trợ tối đa. Với tỷ lệ đại diện hợp lý, các vị trí được chỉ định cho người xác thực tỷ lệ thuận với số lượng người đề cử của họ. Do đó, càng nhiều đề cử có nghĩa là càng nhiều coins sẵn sàng cho trình xác thực, dẫn đến khả năng người xác thực được chọn vào nhóm hoạt động càng cao. Vào cuối mỗi giai đoạn, người xác thực được bầu chọn (một giai đoạn = một giờ). Vì vậy, tập hợp các trình xác thực thay đổi theo từng khoảng thời gian của giai đoạn.

Mô hình ký quỹ và tặng thưởng của Peer

 

Peer sẽ yêu cầu người xác thực phải ký quý tối thiểu 1000 PMC để bắt đầu. Hiện tại phần thưởng đặt ở mức 200 PMC tokens cho mỗi giai đoạn và tỷ lệ tặng thưởng ở mức 10%.

Các khoản tặng thưởng cho người ký quỹ sẽ được xử lý ngay sau khi một giai đoạn (1 giai đoạn = 1 Giờ) kết thúc. Tổng phần thưởng cho mỗi giai đoạn được tính bằng cách chia tổng nguồn cung cấp tokens cho tổng tokens được ký quỹ bởi những người đề cử trong một giai đoạn.

Mục đích chính của phần thưởng là khuyến khích mọi người ký quỹ ở một tỷ lệ nhất định. Tất cả các hoạt động xác thực trong một tập hợp kiếm được cùng một lượng phần thưởng như nhau. Phí hoa hồng cho người xác thực được trừ vào những phần thưởng kiếm được. Các phần thưởng còn lại được phân bổ tương ứng với phần ký quỹ của những người đề cử.

Mô-đun thưởng và phạt, là trọng tâm của hệ thống ký quỹ, nhằm mục đích thúc đẩy hoạt động có lợi và trừng phạt bất kỳ hành vi sai trái hoặc vắng mặt nào trong từng giai đoạn.

Một khi hành vi sai trái được xác định, hành vi phạt có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Một giá trị coin nhất định sẽ bị trừ khỏi số dư của người xác thực và số dư của tất cả những người đề cử đã bỏ phiếu cho người cụ thể bị phạt. Các khoản khấu trừ được thực hiện từ tài khoản lưu trữ của người bị phạt.

Mô hình quản trị của Peer

Trong blockchain của Peer, ba nhóm phụ trách quản lý trên chuỗi. Chúng bao người đề cử, hội đồng và ủy ban kỹ thuật.

Nếu chủ sở hữu tokens trong hệ thống đưa ra một ràng buộc (bond), thì họ có thể đề xuất và bỏ phiếu công khai trong cuộc trưng cầu dân ý. Mỗi khi một đề xuất được đưa ra, các thành viên cộng đồng có thể tán thành nó và đưa lượng tokens tương đương với ràng buộc ban đầu. Tại thời điểm ra mắt, đề xuất với số phiếu bầu cao nhất được đưa vào trưng cầu dân ý để biểu quyết. Đây là giai đoạn mà người bỏ phiếu có thể ký quỹ tokens của họ trong một thời gian dài hơn.

Bất cứ khi nào ai đó đưa ra một đề xuất, điều đó đơn giản có nghĩa là họ đồng ý với nó và sẵn sàng ủng hộ nó với với lượng tokens được ký quỹ ban đầu. Giống như ràng buộc ban đầu của người đề xuất, số tokens bị ràng buộc chỉ có thể được mở khóa khi đề xuất được ủng hộ hoặc được bầu. Khi đề xuất được ủng hộ, thứ hạng của nó sẽ tự động tăng. Đề xuất được ủng hộ nhất tính theo giá trị (không phải số người ủng hộ) cuối cùng sẽ được đưa ra trung cầu dân ý trong giai đoạn bắt đầu.

Khi thời gian ra mắt kết thúc, đề xuất được bình chọn nhiều nhất trong số các đề xuất được ủng hộ sẽ chuyển sang trưng cầu dân ý. Trong giai đoạn này, mọi người có thể bỏ phiếu tán thành hoặc phản đối đề xuất. Người dùng cũng có được sự linh hoạt để đặt cọc tokens của họ trong một thời gian dài hơn để phiếu của mình tăng giá trị ảnh hưởng. Khi tokens đã được ký quỹ, nó sẽ bị khóa, không thể chuyển nhưng có thể sử dụng chúng để bỏ phiếu thêm. Theo quan điểm kỹ thuật, các lượt khóa được xếp chồng lên nhau nhiều lớp. Điều này có nghĩa là một Khóa 8 tuần không trở thành khóa 15 tuần nếu bạn bỏ phiếu sau 7 ngày. Thay vào đó, một lần bổ sung Khóa 8 tuần được đặt trên một phiếu bầu được đặt sau một tuần.

Người dùng có quyền lựa chọn để ủy quyền phiếu bầu của họ cho các tài khoản khác mà họ tin tưởng. Sau khi ủy quyền, tài khoản được trao quyền biểu quyết sẽ làm tăng giá trị cho các tokens. Tại đây, kết quả của việc ủy thác giống với bỏ phiếu thông thường. Sự khác biệt duy nhất là, tokens có thể bị khóa lâu hơn do việc khóa sẽ bị làm lại từ đầu trong trường hợp huy ủy thác.

So sánh Peer (PMC) & Ethereum (ETH)

Ethereum là nền tảng hợp đồng thông minh gốc. Quỹ Ethereum và sự phát triển Ethereum blockchain đã xúc tác cho cuộc cách mạng hợp đồng thông minh. Ngày nay chúng ta có hàng ngàn các ứng dụng trên chuỗi Ethereum, tất cả đều không cần sự tin cậy và hoàn toàn phi tập trung.

Ethereum lần đầu tiên được đề xuất vào cuối năm 2013 và sau đó được đưa vào thực tế vào năm 2014 bởi Vitalik Buterin, thời điểm đó là đồng sáng lập của Tạp chí Bitcoin. Nền tảng Ethereum có hàng nghìn các máy tính chạy độc lập, nghĩa là nó được phân quyền hoàn toàn. Sau khi một chương trình được triển khai trên mạng Ethereum, các máy tính này, còn được gọi là các nodes, sẽ đảm bảo nó thực thi như đã dự định.

Ethereum hiện đang sử dụng mô hình đồng thuận tương tự như Bitcoin được gọi là Proof of Work(Bằng chứng công việc). Trong một mô hình đồng thuận Bằng chứng công việc, có những người khai thác xác thực các giao dịch bằng cách giải quyết các phương trình toán học. Nhược điểm của mô hình đồng thuận này là nó phụ thuộc nhiều vào điện, vì bạn sẽ cần card đồ họa cao cấp để xử lý các giao dịch. Đây là một trong nhiều lý do tại sao ETH sẽ chuyển sang Proof of Stake(Bằng chứng cổ phần) trong Tháng 9 năm 2022.

Source: Ethereum’s ‘Merge’ is Coming: Here’s What You Need to Know (cryptopragmatist.com)

Được gọi là “The Merge”( https://ethereum.org/en/upgrades/ ), Blockchain của Ethereum sẽ trở nên có dễ dàng mở rộng hơn, an toàn, và thân thiện với môi trường. Điều này sẽ được thực hiện bằng cách chuyển từ mô hình đồng thuận Bằng chứng Công việc(Proof of Work) sang Bằng chứng Cổ phần(Proof of Stake). Trong Proof of Stake, bất kỳ ai cũng có thể xác thực giao dịch miễn là họ chạy trình xác thực hoặc ký quỹ cho trình xác thực bằng cách sử dụng dịch vụ như Lido hoặc Rocket Pool. Liên quan đến khả năng mở rộng, Ethereum chỉ có thể xử lý khoảng 15 giao dịch mỗi giây khi hệ thống xử lí nhiều. Ethereum 2.0 nên có các cơ chế cho phép nó hoạt động đến 100.000 giao dịch mỗi giây và thậm chí có thể nhiều hơn.

Ethereum 2.0 cũng sẽ có khả năng chống lại nhiều hơn 51% các cuộc tấn công do cách thức hoạt động của nó. Nói cách khác, việc tấn công mạng hoặc gây tổn hại sẽ khó hơn nhiều. Cuối cùng, bằng cách chuyển sang mô hình đồng thuận Proof of Stake, việc sử dụng năng lượng trên toàn cầu của Ethereum sẽ giảm ở mức đáng kinh ngạc: 99,95%. Do chi phí năng lượng cần thiết để chạy chuỗi rất cao, Peer đã bầu chọn để sử dụng mô hình đồng thuận Proof of Stake và tiết kiệm tương đối năng lượng tiêu thụ trên mỗi giao dịch.

Mặc dù Ethereum hiện là vua khi nói đến nền tảng hợp đồng thông minh, blockchain của họ vẫn có những sai sót, đó là lý do tại sao luôn có một thế hệ mới, “Những kẻ giết ETH”( https://www.coindesk.com/tech/2022/02/10/the-top-ethereum-killers-compared/ ) đến với thị trường hàng năm. Hiện tại, Ethereum sử dụng ngôn ngữ lập trình Solidity – một ngôn ngữ lập trình hướng đối tượng được xây dựng đặc biệt để phát triển các hợp đồng thông minh.

Peer cung cấp TPS nhanh hơn Ethereum và cho phép các nhà phát triển sử dụng Rust

Một trong những lời chỉ trích lớn nhất của Ethereum đối với sự chấp nhận của nhà phát triển là Solidity là một ngôn ngữ lập trình chỉ được sử dụng cho các hợp đồng thông minh, không như Solana hoặc Peer sử dụng Rust. Rust được sử dụng phổ biến nhất trong phát triển doanh nghiệp, tạo ra nhiều cơ hội hơn cho nhà phát triển nhảy vào sự phát triển của Web3 so với Learning curve( Đường cong lĩnh hội) của Solidity.

Source: Top 10 Common Solidity Issues – 101 Blockchains

Khi so sánh tokens của Ethereum (ETH) với của Peer’s (PMC), người ta sẽ ngay lập tức nhận thấy sự khác biệt về tốc độ giao dịch khi tương tác với các ứng dụng phi tập trung. TPS ban đầu của Peer sẽ phản ánh tốc độ dưới 1 giây của Solana. Thay vì đợi 30 phút đến một giờ liên tục kiểm tra Etherscan để xem giao dịch có được thực hiện hay không, người dùng có thể xem trực tiếp xác nhận giao dịch của họ ngay trước mắt họ trong vòng chưa đầy một giây – tất cả với phí giao dịch ít hơn một xu so với phí $ 60 cho một sàn giao dịch Uniswap từ ETH sang USDC.

So sánh Peer (PMC) & Avalanche (AVAX)

Source: medium.com

Avalanche là một nền tảng mã nguồn mở để khởi chạy các ứng dụng phi tập trung và doanh nghiệp triển khai blockchain. Người sáng lập của Avalanche, Emin Gün Sirer, đã phát triển giao thức trong khi còn là giáo sư tại Đại học Cornell. Sirer và nhóm nghiên cứu của anh ấy đã phát triển một công nghệ blockchain khác cho mảng tài chính, không lâu sau khi xuất bản nghiên cứu vào năm 2013 [1311.0243] Majority is not Enough: Bitcoin Mining is Vulnerable (arxiv.org).

Source: https://medium.com/interdax/avalanches-be695ce9463

 

Các nguyên tắc cơ bản cho cơ chế đồng thuận của Avalanche đến từ một sách trắng có tên “Snowflake to Avalanche: A Novel Metastable Consensus Protocol Family for Cryptocurrencies” ( QmUy4jh5mGNZvLkjies1RWM4YuvJh5o2FYopNPVYwrRVGV (ipfs.io) )được phát triển bởi một nhóm có tên là Team Rocket vào tháng 5 năm 2018. Bài cáo đề xuất giao thức đồng thuận “Gia đình Snow” và đã chứng minh rằng nó có thể hoạt động. Nó kết hợp những gì tốt nhất của cả Cổ điển và đồng thuận Nakamoto. Trong khi các giao thức đồng thuận Snow là không cần xin phép, không có hoạt động khai thác hoặc sử dung năng lượng cao với các hệ thống đồng thuận.

Một trong những đột phá kỹ thuật mà Avalanche đã thực hiện là phát triển Mạng ban đầu, xác thực ba blockchain tích hợp của Avalanche.

● Chuỗi trao đổi: X-Chain – X-Chain là một nền tảng phi tập trung cho phép tạo ra các tài sản mới, trao đổi tài sản và chuyển giao giữa các mạng con, như một phiên bản của Máy ảo Avalanche (AVM).

● Chuỗi nền tảng: P-Chain – P-Chain là chuỗi siêu dữ liệu trên Avalanche và điều khiển người xác thực, theo dõi các mạng con đang hoạt động và cho phép tạo mạng con.

● Chuỗi hợp đồng: C-Chain – Chuỗi hợp đồng Avalanche (hoặc Chuỗi C) ứng dụng Máy ảo Ethereum (EVM) (Ethereum Virtual Machine) cho phép các nhà phát triển chuyển qua Ethereum các ứng dụng một cách liền mạch, giống như công cụ quan trọng đã thúc đẩy sự phát triển của DeFi tới nay, ví dụ: MetaMask và Web3.js.

Tương tự như Ethereum, AVAX có một loạt các vấn đề mặc dù là blockchain ban đầu hàng đầu của chuỗi EVM(Ethereum Virtual Machine). Hiện tại, tốn 2.000 tokens AVAX để trở thành người xác thực trong chuỗi mà hiện tại tương đương ~ $ 33k (33 ngàn đô). Với Peer, chi phí để trở thành người xác thực hiện được đặt thành 1000 tokens PMC. Trong ICX của Peer, các nhà đầu tư được công nhận ở Hoa Kỳ và những người không phải công dân Hoa Kỳ ở nước khác sẽ có khả năng mua tokens với giá 1 đô la, chi phí ban đầu để thiết lập trình xác thực $ 1k so với $ 33k. Avalanche sử dụng 3 chuỗi riêng biệt để xử lý giao dịch điều này tốt cho những người hâm mộ tiền điện tử trung thành, nhưng thực tế là người tiêu dùng bình thường không nhớ sự khác biệt giữa chuỗi X, P hoặc C, khi mà họ chỉ muốn lật một file ảnh, chơi một trò chơi, đăng nhập vào ứng dụng xã hội hoặc vay tiền.

 

So sánh Peer (PMC) & Solana (SOL)

Solana được xây dựng bởi công ty phần mềm Solana Labs. Người sáng lập Solana, Anatoly Yakovenko, mô tả Solana như một hệ điều hành bởi vì đó là kiểu kỹ thuật mà anh ấy được sinh ra để làm trong suốt sự nghiệp của mình tại Qualcomm. Ban đầu, anh ấy đã xây dựng Solana và thiết kế nó với các kỹ sư ở Qualcomm. Họ nghĩ rằng một trường hợp sử dụng thiết yếu là dành cho thông tin tài chính. Nó cần có sẵn, rẻ để sửa đổi và độ trễ thấp nhất có thể hoặc được được định nghĩa: “Blockchain với tốc độ NASDAQ.” Ngay từ đầu, tầm nhìn của Anatoly là phát triển nền tảng dành cho các nhà phát triển với tiềm năng hầu như không giới hạn, vì vậy tốc độ, khả năng mở rộng và phí thấp đã trở thành trọng tâm chính khi thiết kế giao thức Solana.

Nguồn: (1) NM on Twitter: “What are the theoretical performance constraints of Solana? 1) Network -> 710K TPS 2) Computation -> 900K TPS 3) Memory -> 2.75M TPS. Thus, @SolanaLabs is theoretically capable of 710K TPS. The current “single-node TestNet” is running at 250K TPS with a peak of 400K TPS. https://t.co/26ahswzlXh” / Twitter

Solana hiện là blockchain ban đầu( layer 1) chạy nhanh nhất trên thị trường và điều này là do cơ chế đồng thuận Bằng chứng Lịch sử (Proof of History) của nó đánh dấu thời gian giao dịch. Bằng chứng Lịch sử sử dụng một hàm đệ quy, có thể xác minh chức năng trì hoãn để băm các sự kiện và giao dịch đến. Mọi sự kiện đều có hàm băm và số đếm duy nhất, cùng với cấu trúc dữ liệu này như một hàm của thời gian thực. Thông tin này cho người dùng biết sự kiện nào phải đến trước sự kiện khác, giống như một dấu thời gian mật mã cho thứ tự có thể xác minh của các sự kiện như một hàm của thời gian. Mỗi node nhận được một đồng hồ mật mã giúp mạng lưới đồng ý về thời gian và thứ tự của các sự kiện mà không cần phải chờ đợi phản hồi từ các node khác.

Nguồn: CMCC Global

Mạng chính của Solana đã hoạt động vào tháng 3 năm 2020 và về mặt kỹ thuật, blockchain của nó vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm, rõ ràng bởi số lần ngừng hoạt động mà chuỗi đã trải qua trong năm qua. Khoảng thời gian của thời gian gián đoạn ngắn nhất là 75 phút trong khi thời gian ngừng hoạt động lâu nhất kéo dài 18 giờ 12 phút dựa nào sự kiểm tra của Solana. Hiện vẫn chưa rõ khi nào blockchain của Solana sẽ chuyển sang giai đoạn chính.

Source: Solana cryptocurrency has second outage in a month, causing 12 percent dip in value – DCD (datacenterdynamics.com)

 

Thật không may, Solana Labs chưa đưa ra lộ trình chính thức dành cho nhà phát triển để ra mắt đầy đủ nhưng nó đồn đoán là vào cuối năm 2022. Blockchain Solana hiện được bảo mật bởi khoảng 1800 người xác thực nhưng điều quan trọng cần lưu ý là các giao dịch trên Solana được xử lý bởi các nhóm nhỏ hơn lên đến 150 người xác thực được gọi là cụm Solana. Solana sử dụng máy ảo riêng và lập trình bằng Rust, nghĩa là nó không phải là EVM tương thích như Avalanche’s C-chain.

Peer và Solana có rất nhiều điểm giống nhau. Cả hai đều có TPS cao nhất khi so sánh với các chuỗi EVM(Ethereum Virtual Machine) khác. Cả hai đều sử dụng một ví duy nhất không cần phải thay đổi mạng liên tục. Cả hai đều được viết bằng Rust và được nhiều nhà phát triển chấp nhận do đây là ngôn ngữ mà hầu hết các nhà phát triển đã sử dụng. Sự khác biệt giữa hai chuỗi là các mô hình đồng thuận của chúng và tính bền bỉ để xử lý các thời điểm lượng truy cập cao.

Sự cố ngừng hoạt động gần đây nhất của Solana, khiến mạng ngừng hoạt động trong 4 giờ 10 phút, là kết quả của việc thiếu các khối mới được sản xuất – điều quan trọng để duy trì blockchain Solana hoạt động. Không giống như Solana Labs (công ty phát triển duy trì chuỗi Solana), Peer sẽ tạo ra các ứng dụng phần mềm cho blockchain Peer cũng như duy trì chuỗi. Peer nhắm tới học hỏi từ những người đi trước và thay vì khởi chạy một dự án thử nghiệm. Peer mất ba năm qua để hoàn thiện kiến ​​trúc nền của nó để xử lý lượng giao dịch từ người dùng.

Peer Sự trỗi dậy của Metaverse

Để biết thêm về tầm nhìn Peer xây dựng mạng xã hội Web3 và blockchain cho metaverse, xem video dài 3 phút này từ người sáng lập của họ, Tony Tran, có tên là Metaverse Rising.

Tran nói: “Mọi thứ trong blockchain đều xoay quanh giao dịch, từ tokens đến NFT. “Nhưng để đưa blockchain đến với công chúng, chúng tôi phải làm những gì mà trải nghiệm trên máy tính để bàn đã làm cho lệnh từ giao diện người dùng — chúng tôi cần ẩn sự phức tạp của blockchain và đưa ra các khả năng để những người bình thường có thể sử dụng nó.

Steve Jobs thường nói con người tạo ra những công cụ khuếch đại khả năng vốn có của chúng ta. Anh ấy đã tin máy tính khuếch đại tâm trí bằng cách làm cho nó nhanh hơn và hiệu quả hơn. Tôi nhận ra rằng nếu chúng ta chỉ cần tìm ra những gì blockchain khuếch đại, chúng ta sẽ biết cách tiếp cận trải nghiệm người dùng.

Thay vì đưa thế giới thực vào không gian mạng, chúng tôi đang bắt đầu lập vẽ không gian mạng trực tiếp trên thế giới vật lý, ”ông Tran nói. “Đó không phải là sự đắm chìm, nơi bạn đứng yên, đeo thiết bị lên đầu và đưa hình đại diện của bạn trên không gian ảo — mà đó là sự hiện diện, nơi web có thể tồn tại trong không gian nơi bạn đang ở. Đó là metaverse. “

Nguồn: Peer – Unlocking the metaverse.

Trong khi tầm nhìn này rất rộng lớn và cần nhiều công sức, nếu họ làm được chỉ cần một nửa thôi, sẽ mở ra rất nhiều cơ hội cho Peer.

Ứng dụng phi tập trung của Peer – Mạng xã hội

Là sản phẩm phần mềm ban đầu, Peer đang xây dựng Mạng xã hội Web3 nơi người dùng sở hữu dữ liệu – một phiên bản phi tập trung của Facebook và Twitter, sẽ đưa metaverse vào cuộc sống. Đội ngũ Peer hình dung metaverse như một thế giới tương tác không bị ràng buộc bởi máy tính để bàn hoặc thiết bị di động. Thay vào đó, metaverse sẽ kết hợp cuộc sống hàng ngày của chúng ta với công nghệ blockchain.

“Truyền thông Blockchain là khả năng tạo ra nội dung kỹ thuật số thấm nhuần đặc tính blockchain. NFT chẳng hạn, là một nội dung kỹ thuật số sử dụng Tính khan hiếm. Token là một kỹ thuật số mục sử dụng Tính bất biến và Tính khan hiếm. Đăng hình ảnh vào một thời gian và địa điểm cụ thể, và ghim nó ở đó mãi mãi trên một blockchain sẽ sử dụng sự khan hiếm và bất biến. Không một ai có thể di chuyển nó và nó chỉ có duy nhất. ” – Tony Trần, Giám đốc điều hành của Peer, Inc.

Sau khi ra mắt sẽ có ba DeFi Dapp( ứng dụng tài chính phi tập trung) khác khởi chạy trên Peer.

Nooncake – Một giao thức truyền phương tiện phi tập trung sẽ được sử dụng để tạo video môi trường của Web3

.

Telesto – Một dự án nhằm tạo ra tiền điện tử vi mô với định lượng thuật toán giảm chấn để bảo vệ chống lại sự biến động của thị trường.

Puffin – Hệ thống mẫu để tạo và tải nội dung không gian thời gian lên web không gian của Peer

.

Nguồn: Peer – Unlocking the metaverse.

Sau khi ra mắt ứng dụng mạng xã hội, người dùng sẽ có thể tham gia hệ sinh thái Peer’s Dapp thông qua ứng dụng. Peer sẽ tạo Chương trình nhà phát triển để cung cấp một khuôn khổ, qua đó các nhà phát triển có thể tạo các dApp trên mạng (tương tự như Apple Developer Program). Cuối cùng, Peer nhằm mục đích khuyến khích người sáng tạo cũng như tổ chức các hackathons để thúc đẩy phát triển trên nền tảng.

Để tìm hiểu thêm về Peer và PMC tokens

Bài viết này là một bài đánh giá sâu về đồng tiền từ Coinstack và không phải là một lời đề nghị bán PMC hay một lời mời chào mua PMC. Việc cung cấp PMC sẽ được thực hiện độc quyền bằng cách cung cấp một Bản ghi nhớ (PPM) do Peer Inc. trực tiếp thực hiện.

PPM của Peer chứa các thông tin cho người mua tiềm năng, bao gồm cả rủi ro của khoản đầu tư.

Để tìm hiểu thêm về Peer và quá trình ICX, bạn có thể truy cập trang web https://www.peer.inc/. Các nhà đầu tư chính thức tại Mỹ, và công dân các nước khác có thể xem đề nghị chào bán từ 27 tháng 6. Bạn cũng có thể theo dõi Peer qua Twitter @peerpmc.

5/5 - (1 vote)

Leave a Reply

Your email address will not be published.